Giáo án NLS Ngữ văn 11 kết nối Bài ôn tập học kì II
Giáo án NLS Ngữ văn 11 kết nối tri thức Bài ôn tập học kì II. Với năng lực số được tích hợp, tiết học sẽ giúp học sinh làm quen và ứng dụng công nghệ, tin học. KHBD này là file word, tải về dễ dàng. Là mẫu giáo án mới nhất năm 2026 để giáo viên dạy tốt môn Ngữ văn 11.
=> Giáo án tích hợp NLS Ngữ văn 11 kết nối tri thức
Ngày soạn:…/…/…
Ngày dạy:…/…/…
ÔN TẬP HỌC KÌ II
I. MỤC TIÊU
1. Kiến thức
- Hệ thống hoá được những kiến thức đã học trong SGK Ngữ văn 11, tập hai.
- Củng cố được các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe thông qua việc thực hiện những nhiệm vụ đã đặt ra trong các bài tập.
- Vận dụng được kiến thức, kĩ năng đã học và rèn luyện vào giải quyết những bài tập mang tính tổng hợp.
2. Năng lực
Năng lực chung
- Năng lực giao tiếp và hợp tác: khả năng thực hiện nhiệm vụ một cách độc lập hay theo nhóm; Trao đổi tích cực với giáo viên và các bạn khác trong lớp.
- Năng lực tự chủ và tự học: biết lắng nghe và chia sẻ ý kiến cá nhân với bạn, nhóm và GV. Tích cực tham gia các hoạt động trong lớp.
- Giải quyết vấn đề và sáng tạo: biết phối hợp với bạn bè khi làm việc nhóm, tư duy logic, sáng tạo khi giải quyết vấn đề.
Năng lực đặc thù
- Nhận biết được đặc trưng thể loại VB thông tin qua những văn bản Sơn Đoòng – thế giới chỉ có một, Đồ gốm gia dụng của người Việt, Cung đường của kí ức, hiện tại và tương lai.
- Nhận biết và nêu tác dụng của phương tiện phi ngôn ngữ, nhận biết và thực hiện được các cách trích dẫn tài liệu.
- Nhận biết và hiểu được những kĩ năng viết một báo cáo nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội.
- Có khả năng trình bày bài báo cáo nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội lưu loát, thuyết phục.
Năng lực số:
- [1.2.NC1b]: Đánh giá được độ tin cậy và giá trị của thông tin thu thập được từ các nguồn kỹ thuật số khi thực hiện báo cáo nghiên cứu.
- [3.1.NC1a]: Sử dụng các phần mềm chuyên dụng để thiết kế sơ đồ tư duy hệ thống hóa kiến thức học kỳ II.
- [6.1.NC1a]: Nhận diện và đánh giá được tác động của AI trong việc tạo lập văn bản (như viết báo cáo, tóm tắt tác phẩm) so với tư duy sáng tạo của con người.
- [6.2.NC1a]: Sử dụng các công cụ Generative AI (AI tạo sinh) để gợi ý cấu trúc báo cáo nghiên cứu hoặc kiểm tra lỗi trích dẫn tài liệu.
- [6.1.NC1b]: Giải thích được vai trò của các thiết bị IoT (cảm biến, camera giám sát) trong việc thu thập dữ liệu thực tế cho các văn bản thông tin về môi trường.
3. Phẩm chất
- Chăm chỉ ôn tập và làm bài tập đầy đủ.
- Có tinh thần trách nhiệm khi làm việc nhóm.
II. THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU
1. Đối với giáo viên
- KHBD;
- Phiếu bài tập, trả lời câu hỏi;
- Bảng phân công nhiệm vụ cho học sinh hoạt động trên lớp;
- Bảng giao nhiệm vụ học tập cho học sinh ở nhà;
- Máy tính, máy chiếu.
- Video AI được tạo bằng các công cụ AI để khởi động bài học.
- Công cụ AI hỗ trợ: ChatGPT, Copilot.
2. Đối với học sinh
- SGK, SBT Ngữ văn 11.
- Soạn bài theo hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài, vở ghi.
- Thiết bị số: Máy tính bảng hoặc điện thoại thông minh (nếu điều kiện cho phép) có kết nối Internet.
III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1. HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG
…………………………………………..
…………………………………………..
…………………………………………..
2. CỦNG CỐ KIẾN THỨC BÀI HỌC
a. Mục tiêu: Thông qua hoạt động, HS củng cố lại kiến thức.
b. Nội dung: GV hướng dẫn HS ôn tập.
c. Sản phẩm học tập: HS nhắc lại kiến thức chung và chuẩn kiến thức của GV.
d. Tổ chức thực hiện:
| HOẠT ĐỘNG CỦA GV – HS | SẢN PHẨM DỰ KIẾN | NLS |
Nhiệm vụ 1: Củng cố kiến thức về văn bản đọc Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học tập - GV yêu cầu HS trả lời câu hỏi: + Sơ đồ hoá danh mục loại, thể loại văn bản đã học trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập hai. Nêu nhan đề những văn bản cụ thể thuộc các loại, thể loại ấy. + Lập bảng phân loại những đơn vị kiến thức cốt lõi được trình bày trong phần Tri thức ngữ văn của mỗi bài học trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập hai theo từng nhóm: kiến thức chung về loại, thể loại; kiến thức về các yếu tố cấu thành văn bản thuộc từng loại, thể loại; kiến thức về lịch sử văn học; kiến thức tiếng Việt. + Nêu nhận xét về nội dung Bài 6 (Nguyễn Du – "Những điều trông thấy mà đau đớn lòng") trong sự so sánh với Bài 6 (Nguyễn Trãi – “Dành còn để trợ dân này”) ở sách giáo khoa Ngữ văn 10, tập hai để nhận ra đặc điểm và yêu cầu riêng của loại bài học về tác gia văn học. Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ học tập - HS vận dụng kiến thức đã học để hoàn thiệnn câu trả lời. - GV quan sát, hỗ trợ HS (nếu cần thiết). Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và thảo luận - GV mời đại diện 3 – 4 HS trình bày kết quả. Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập - GV nhận xét, đánh giá.
Nhiệm vụ 2: Củng cố kiến thức về thực hành tiếng Việt Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học tập - GV yêu cầu HS trả lời câu hỏi: + Phân tích ý nghĩa của các nội dung thực hành tiếng Việt trong việc hỗ trợ hoạt động đọc văn bản ở sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập hai. - GV yêu cầu HS sử dụng công cụ Mindmap kỹ thuật số (như Canva hoặc XMind) trên máy tính để thiết kế sơ đồ hệ thống hóa các phương tiện phi ngôn ngữ có trong bài học. Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ học tập - HS vận dụng kiến thức đã học để hoàn thiệnn câu trả lời. - GV quan sát, hỗ trợ HS (nếu cần thiết). Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và thảo luận - GV mời đại diện 3 – 4 HS trình bày kết quả. Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập - GV nhận xét, đánh giá.
Nhiệm vụ 3: Củng cố kiến thức về phần Viết Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học tập - GV yêu cầu HS trả lời câu hỏi: + Nêu những kiểu bài viết và yêu cầu của từng kiểu bài đã được thực hành trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập hai. - GV hướng dẫn HS sử dụng các công cụ kiểm tra độ tin cậy của website (như kiểm tra tên miền, tác giả) khi tìm kiếm tài liệu số cho báo cáo nghiên cứu xã hội. Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ học tập - HS vận dụng kiến thức đã học để hoàn thiệnn câu trả lời. - GV quan sát, hỗ trợ HS (nếu cần thiết). Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và thảo luận - GV mời đại diện 3 – 4 HS trình bày kết quả. Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập - GV nhận xét, đánh giá.
Nhiệm vụ 4: Củng cố kiến thức về phần Nói và nghe ………………………………………….. ………………………………………….. ………………………………………….. | I. Củng cố kiến thức về văn bản đọc 1. Sơ đồ hoá danh mục loại, thể loại văn bản đã học trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập hai. - GV gợi mở theo sơ đồ PHỤ LỤC 5. 2. Bảng phân loại những đơn vị kiến thức cốt lõi được trình bày trong phần Tri thức ngữ văn của mỗi bài học trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập hai theo từng nhóm: kiến thức chung về loại, thể loại; kiến thức về các yếu tố cấu thành văn bản thuộc từng loại, thể loại; kiến thức về lịch sử văn học; kiến thức tiếng Việt. - GV gợi mở theo bảng PHỤ LỤC 6. 3. So sánh giữa Bài 6 (Nguyễn Du – "Những điều trông thấy mà đau đớn lòng") với Bài 6 (Nguyễn Trãi – “Dành còn để trợ dân này”) ở sách giáo khoa Ngữ văn 10, tập hai - Bài 6 (Nguyễn Du – "Những điều trông thấy mà đau đớn lòng") so với Bài 6 (Nguyễn Trãi – “Dành còn để trợ dân này”) ở sách giáo khoa Ngữ văn 10, tập hai khác nhau chủ yếu ở phần sự nghiệp sáng tác của hai tác giả. + Bài 6 (Nguyễn Trãi – “Dành còn để trợ dân này”) ở sách giáo khoa Ngữ văn 10, tập hai đưa chia ra thành 2 phần: Nội dung thơ văn và Đặc điểm nghệ thuật. + Bài 6 (Nguyễn Du – "Những điều trông thấy mà đau đớn lòng") đã chia ra rất rõ ràng và cụ thể
=> Như vậy, bài học về tác gia văn học thường sẽ chia thành 2 mục: Tiểu sử và sự nghiệp văn học. Với phần tiểu sử sẽ cung cấp những thông tin về thân thế, cuộc đời của tác gia. Phần sự nghiệp sẽ nêu những sáng tác nổi bật cũng như những đóng góp của tác gia đó đối với nền văn học nước nhà. Đặc biệt, mỗi tác giả sẽ khẳng định tên tuổi của mình bằng một tác phẩm để đời ví dụ như Nguyễn Du với Truyện Kiều, Nguyễn Trãi với Bình Ngô đại cáo,… vậy nên cũng cần có một phần riêng tập trung về các tác phẩm đó. II. Ý nghĩa của các nội dung thực hành tiếng Việt trong việc hỗ trợ hoạt động đọc văn bản ở sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập hai. 1. Biện pháp tu từ lặp cấu trúc, biện pháp tu từ đối - Đây là hai biện pháp được sử dụng phổ biến trong văn bản văn học, nhất là thơ, giúp chúng ta nắm bắt được những nhịp điệu, nội dung nổi bật mà tác giả nhấn mạnh trong tác phẩm,… 2. Một số hiện tượng phá vỡ những quy tắc ngôn ngữ thông thường: đặc điểm và tác dụng (tiếp theo) - Khi nắm nắm bắt được những hiện tượng phá vỡ những quy tắc ngôn ngữ thông thường, ta sẽ nắm bắt được cách sử dụng từ ngữ và những liên tưởng tượng độc đáo của tác giả khi hình dung về đối tượng được nói đến. 3. Phương tiện phi ngôn ngữ - Khi nắm bắt được những phương tiện độc đáo trong văn bản, ta có thể hình dung rõ ràng và cụ thể về đối tượng mà tác giả đề cập đến, giúp cho việc diễn đạt thêm sinh động, phong phú hơn… 4. Cách giải thích nghĩa của từ - Với những văn bản dùng từ Hán Việt hoặc nhiều điển tích điển cố, ta cần tìm hiểu ý nghĩa của chúng, nắm bắt được cách giải thích nghĩa của từ là một cách để khám phá văn bản được sâu hơn và tường tận hơn. III. Củng cố phần Viết 1. Những kiểu bài viết đã được thực hành trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập hai. a. Yêu cầu của văn bản thuyết minh về một tác phẩm văn học + Giới thiệu được tác phẩm cần thuyết minh (nhan đề, tên tác giả, đánh giá chung). Giới thiệu khái quát về tác giả. + Nêu được hoàn cảnh sáng tác, đặc điểm thể loại; tóm tắt được nội dung tác phẩm. + Nêu thông tin cơ bản về giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. + Khẳng định vị trí, đóng góp của tác phẩm đối với đời sống văn học. + Có lồng ghép các yếu tố miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận. b. Yêu cầu của văn bản thuyết minh về một sự vật, hiện tượng trong đời sống xã hội + Nêu rõ sự vật, hiện tượng trong đời sống xã hội được thuyết minh và cung cấp một số thông tin cơ bản giúp người đọc hình dung bước đầu về sự vật, hiện tượng đó. + Làm sáng tỏ sự vật, hiện tượng theo trình tự phù hợp với đặc điểm của sự vật, hiện tượng đó. + Rút ra ý nghĩa của việc nhận thức đúng về sự vật, hiện tượng được thuyết minh. + Sử dụng kết hợp trong văn bản thuyết minh một hay nhiều yếu tố như miêu tả, tự sự, biểu cảm hoặc nghị luận. c. Yêu cầu của văn bản thuyết minh về một sự vật, hiện tượng trong tự nhiên + Nêu rõ sự vật, hiện tượng trong tự nhiên được thuyết minh và cung cấp một số thông tin cơ bản, nổi bật về sự vật, hiện tượng đó. + Làm sáng tô sự vật, hiện tượng trong tự nhiên theo trình tự phù hợp với đặc điểm của đối tượng được thuyết minh. + Nêu được ý nghĩa của việc nhận thức đúng về sự vật, hiện tượng được thuyết minh. + Sử dụng kết hợp trong văn bản thuyết minh một hay nhiều yếu tố như miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận. d. Yêu cầu của văn bản nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật + Nêu được những thông tin khái quát về tác phẩm nghệ thuật sẽ bàn tới trong bài viết (tác giả, tên tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác, đánh giá của công chúng,..). + Xác định rõ nội dung và hệ thống luận điểm sẽ triển khai: miêu tả chung về tác phẩm bằng ngôn ngữ phù hợp với loại hình nghệ thuật của nó; phân tích tác phẩm trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật; đánh giá tổng quát; gợi ý về cách tiếp cận phù hợp đối với tác phẩm... + Phối hợp linh hoạt giữa việc trình bày lí lẽ và nêu bằng chứng cụ thể. + Thể hiện được sự rung động trước tác phẩm và sự đồng cảm đối với tác giả. IV. Các nội dung hoạt động của phần Nói và nghe được thực hiện trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập hai và ý nghĩa của từng nội dung hoạt động đó. ………………………………………….. ………………………………………….. ………………………………………….. | 3.1.NC1a: HS sử dụng các phần mềm chuyên dụng để thiết kế sơ đồ tư duy hệ thống hóa kiến thức học kỳ II. 1.2.NC1b: HS đánh giá được độ tin cậy và giá trị của thông tin thu thập được từ các nguồn kỹ thuật số khi thực hiện báo cáo nghiên cứu. 6.2.NC1b: HS Giải thích được vai trò của các thiết bị IoT (cảm biến, camera giám sát) trong việc thu thập dữ liệu thực tế cho các văn bản thông tin. 2.1.NC1a: HS biết tự điều chỉnh năng lực giao tiếp cá nhân qua dữ liệu số. |
PHỤ LỤC 5
…………………………………………..
…………………………………………..
…………………………………………..
3. HOẠT ĐỘNG LUYỆN TẬP, VẬN DỤNG
a. Mục tiêu: Biết vận dụng kiến thức đã học để hoàn thành những yêu cầu của các phần đọc, viết, nói và nghe.
b. Nội dung: GV yêu cầu HS tập lập văn bản.
c. Sản phẩm học tập: Câu trả lời của HS.
d. Tổ chức thực hiện:
Nhiệm vụ 1: Phân tích văn bản “Nhà thơ và thế giới”
Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học tập
- GV yêu cầu HS đọc văn bản Nhà thơ và thế giới và trả lời những câu hỏi sau:
1. Xác định ý tưởng chính mà nhà thơ Uýt-xla-oa Dim-bo-xca muốn triển khai qua đoạn trích. Ý tưởng đó gắn với từ khoá nào?
2. Hãy nêu một số cụm từ được tác giả nhắc tới trong đoạn trích mà bạn cho là có ý nghĩa tương đương với cụm từ “tôi không biết”.
3. Theo tác giả, việc tự xác nhận rằng “tôi không biết" có ý nghĩa như thế nào đối với cuộc sống của mỗi con người và của nhân loại nói chung? Bạn đánh giá như thế nào về các bằng chứng được tác giả nêu lên nhằm khẳng định quan điểm của mình?
4. Hãy nêu một ví dụ gắn với lĩnh vực sáng tạo thơ để minh hoạ cho vấn đề được tác giả đề cập trong đoạn 2.
5. Phân tích mạch lạc và liên kết của đoạn trích.
6. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) bày tỏ suy nghĩ của bạn về hoạt động sáng tạo của nhà thơ nói riêng, của các nghệ sĩ nói chung từ những gì được gợi ý trong đoạn trích.
Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ học tập
- HS nghe yêu cầu và thực hiện nhiệm vụ.
- GV hỗ trợ HS (nếu cần).
Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động
- GV mời đại diện 1 - 2 HS trình bày kết quả.
- HS lắng nghe, nhận xét, đặt câu hỏi (nếu có).
Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ
- GV nhận xét, đánh giá.
- Gợi ý:
1. Ý tưởng chính mà nhà thơ Uýt-xla-oa Dim-bo-xca (Wislawa Szymborska) muốn triển khai là: Đề có thể không ngừng sáng tạo trong một thế giới bao la, đầy ắp những điều bí ẩn, nhà thơ luôn cần biết ngạc nhiên, luôn tìm cách giải đáp những câu hỏi và luôn nuôi dưỡng trạng thái không thoả mãn với chính các câu trả lời đã có của mình. Ý tưởng này gắn với từ khoá “tôi không biết".
2. Một số cụm từ được tác giả nhắc tới trong đoạn trích có ý nghĩa tương đương với cụm từ “tôi không biết” là: “cố gắbg tìm câu trả lời bằng mỗi tác phẩm của mình”, “cảm thấy băn khoăn”, “không hài lòng với bản thân mình”…
3.
+ Việc tự xác nhận rằng “tôi không biết” luôn tạo nên nguồn động lực lớn, thúc đẩy mỗi cá nhân và con người nói chung không ngừng khám phá, tìm hiểu về thế giới, từ đó, có những phát kiến, phát minh đem lại sự hiểu biết và hạnh phúc cho nhân loại.
+ Tác giả đã nêu những bằng chứng hết sức thuyết phục, từng được nhiều người biết nhưng không phải ai cũng thấy ý nghĩa của nó.
4. Một ví dụ gắn với lĩnh vực sáng tạo thơ để minh hoạ cho vấn đề được tác giả đề cập trong đoạn 2:
+ Những nhà thơ của phong trào thơ Mới đã có những cách tân, đổi mới hết sức mạnh mẽ nhất là trong lĩnh vực thơ ca. Vượt ra khỏi những khuôn khổ của những thể thơ Đường luật xưa cũ với hệ thống niêm, luật khắt khe, nghiêm ngặt…
+ Một số nhà thơ, nhà văn tiêu biểu: Xuân Diệu, Khái Hưng, Nhất Linh, Hoài Thanh, Nguyễn Bính, Anh Thơ, Bàng Bá Lân, …
5.
+ Mạch lạc của văn bản là: đằng sau cụm từ “tôi không biết” chính là hành trình sáng tạo, khám phá và tìm kiếm câu trả lời của nhà thơ nói riêng và người nghệ sĩ nói chung.
+ Liên kết: đoạn văn thứ nhất với nội dung câu nói “tôi không biết” chính là khởi đầu cho những tìm tòi, khám phá thế giới đầy bí ẩn này được liên kết với đoạn 2 bằng câu văn “Nhà thơ cũng vậy” để thể hiện nội dung về sự sáng tạo trong quá trình sáng tác, nhà thơ cũng cần nhắc mình “tôi không biết” để khởi đầu hành trình sáng tạo nghệ thuật bằng việc khám phá những cảm hứng mới và trả lời cho những câu hỏi bằng chính tác phẩm của mình.
6. Gợi ý:
+ Sáng tạo thơ ca là một loại lao động có tính đặc thù, đòi hỏi nhà thơ phải tốn rất nhiều tâm não trong cuộc vật lộn với chữ để làm nên những sản phẩm ngôn từ độc đáo, đặc sắc, làm phong phú cho tiếng nói chung.
+ “Tôi không biết” tức là không dựa vào cái đã có sẵn để viết mà tự bản thân nhà thơ phải đi tìm kiếm nguồn cảm hứng mới, chủ đề mới cho riêng mình để viết.
+ Hoạt động sáng tạo thơ ca cũng là một hoạt động lao động chân chính như bao công việc khác. Để tạo nên một bài thơ, người nghệ sĩ không thể thảnh thơi với những khoảnh khắc đến bất chợt mà cũng phải lầm lũi, vất vả, tư duy, suy nghĩ, lựa chọn, gắng sức trên “cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ”. Hoạt động sáng tạo thơ ca là một hành trình khó khăn, gian khổ và người nghệ sĩ phải tạo được cho mình những lối đi riêng, khẳng định phong cách nghệ thuật của bản thân.
+ Sáng tạo là kết quả của quá trình dấn thân, nhập cuộc, tích lũy, hun đúc, một tiến trình cọ xát dữ dội. Sáng tạo không có nghĩa là bịa đặt. Sáng tạo nghệ thuật giống như sáng tạo cuộc sống, cần có yếu tố thẩm mỹ, tính chân thực cao, có khả năng tác động mạnh mẽ vào nhận thức của người đọc. Chính nỗ lực sáng tạo của người nghệ sĩ là sức sống của thơ ca.
+ Bản chất của lao động nghệ thuật là sáng tạo, một sự lao động miệt mài không ngừng nghỉ. Văn chương sẽ ra sao nếu tác phẩm này là bản sao của tác phẩm kia? Nếu mỗi người nghệ sĩ đều bằng lòng với những điều có sẵn? Câu chữ mòn sáo, lời văn đơn điệu, quen nhàm? Ấy là cái chết của nghệ thuật, cái chết của người nghệ sĩ trong mỗi nhà văn. Bởi “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những ai biết đào sâu, tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” (Nam Cao).
Nhiệm vụ 2: Luyện tập phần viết
Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học tập
- GV yêu cầu HS chọn một trong các đề sau:
Đề 1: Hãy tạo lập một văn bản thuyết minh có sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ để giới thiệu một tác phẩm văn học được bạn đánh giá là đặc sắc.
Đề 2: Vấn đề xã hội nào hiện nay đang khiến bạn quan tâm nhiều nhất? Hãy viết một văn bản thuyết minh về vấn đề đó.
Đề 3: Ở mỗi người, nhu cầu tìm hiểu, khám phá thế giới kì diệu của nghệ thuật thường được khơi lên từ cuộc tiếp xúc bất ngờ với một tác phẩm cụ thể. Với bạn, tác phẩm nào đã đóng vai trò này? Hãy viết về tác phẩm đó.
Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ học tập
- HS nghe yêu cầu và thực hiện nhiệm vụ.
- GV hỗ trợ HS (nếu cần).
Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động
…………………………………………..
…………………………………………..
…………………………………………..