Giáo án NLS Ngữ văn 11 kết nối Bài 7: "Và tôi vẫn muốn mẹ..."

Giáo án NLS Ngữ văn 11 kết nối tri thức Bài 7: "Và tôi vẫn muốn mẹ...". Với năng lực số được tích hợp, tiết học sẽ giúp học sinh làm quen và ứng dụng công nghệ, tin học. KHBD này là file word, tải về dễ dàng. Là mẫu giáo án mới nhất năm 2026 để giáo viên dạy tốt môn Ngữ văn 11.

Xem: => Giáo án tích hợp NLS Ngữ văn 11 kết nối tri thức

Ngày soạn: …/…/…

Ngày dạy: …/…/….

TIẾT: VĂN BẢN 2: VÀ TÔI VẪN MUỐN MẸ

I. MỤC TIÊU

1. Kiến thức

  • Nắm được những được những đặc điểm cơ bản của truyện kí – một thể loại chú trọng ghi chép sự thực đời sống và thể hiện bằng văn bản giàu yếu tố tự sự (có tình huống, sự kiện cốt truyện, nhân vật…).
  • Qua việc đọc văn bản được tác giả tạo nên bằng cách ghi lại lời kể của một nhân vật có thật, đề cập đến những chuyện xảy ra trong kí ức, phân tích và hiểu được tính chất phi hư cấu và hư cấu trong truyện kí.

2. Năng lực

Năng lực chung

  • Năng lực giao tiếp và hợp tác: khả năng thực hiện nhiệm vụ một cách độc lập hay theo nhóm; Trao đổi tích cực với giáo viên và các bạn khác trong lớp.
  • Năng lực tự chủ và tự học: biết lắng nghe và chia sẻ ý kiến cá nhân với bạn, nhóm và GV. Tích cực tham gia các hoạt động trong lớp.
  • Giải quyết vấn đề và sáng tạo: biết phối hợp với bạn bè khi làm việc nhóm, tư duy logic, sáng tạo khi giải quyết vấn đề.

Năng lực đặc thù

  • Nắm được những được những đặc điểm cơ bản của truyện kí – một thể loại chú trọng ghi chép sự thực đời sống và thể hiện bằng văn bản giàu yếu tố tự sự (có tình huống, sự kiện cốt truyện, nhân vật…) qua văn bản Và tôi vẫn muốn mẹ…
  • Qua việc đọc văn bản được tác giả tạo nên bằng cách ghi lại lời kể của một nhân vật có thật, đề cập đến những chuyện xảy ra trong kí ức, phân tích và hiểu được tính chất phi hư cấu và hư cấu trong truyện kí qua văn bản Và tôi vẫn muốn mẹ…

Năng lực số: 

  • 1.1.NC1a: Biết tìm kiếm, lựa chọn và đánh giá tính xác thực của thông tin số về tác giả S. Alexievich và bối cảnh Thế chiến II.
  • 6.1.NC1a: Biết sử dụng công cụ AI để hỗ trợ phân tích tâm lý nhân vật và bối cảnh lịch sử.
  • 2.1.NC1b: Sử dụng các công cụ tương tác số (Padlet/LMS) để chia sẻ và thảo luận về các giá trị nhân văn của văn bản.

3. Phẩm chất

  • Thấu hiểu và cảm thông với con người ở những cảnh ngộ khác nhau.

II. THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU

1. Đối với giáo viên

  • KHBD;
  • Phiếu bài tập, trả lời câu hỏi;
  • Bảng phân công nhiệm vụ cho học sinh hoạt động trên lớp;
  • Bảng giao nhiệm vụ học tập cho học sinh ở nhà;
  • Máy tính, máy chiếu.
  • Video AI được tạo bằng các công cụ AI để khởi động bài học.
  • Công cụ AI hỗ trợ: ChatGPT, Copilot…

2. Đối với học sinh

  • SGK, SBT Ngữ văn 11.
  • Soạn bài theo hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài, vở ghi.
  • Thiết bị số: Máy tính bảng hoặc điện thoại thông minh (nếu điều kiện cho phép) có kết nối Internet.

III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC

1. HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG

…………………………………………..

…………………………………………..

…………………………………………..
 

2. HÌNH THÀNH KIẾN THỨC

Hoạt động 1: Đọc – hiểu văn bản

a. Mục tiêu: Nhận biết và hiểu được một số đặc trưng của văn bản truyện kí.

b. Nội dung: HS sử dụng SGK, quan sát, chắt lọc kiến thức trả lời những câu hỏi liên quan đến bài học.

c. Sản phẩm học tập: Câu trả lời của HS và chuẩn kiến thức của GV.

d. Tổ chức thực hiện:

HOẠT ĐỘNG CỦA GV – HSSẢN PHẨM DỰ KIẾNNLS

Nhiệm vụ 1: Tìm hiểu về truyện kí

Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học tập

- GV hướng dẫn HS làm việc cá nhân, xem lại kiến thức ở phần Tri thức ngữ văn và thực hiện yêu cầu sau:

  • Phi hư cấu và hư cấu trong truyện kí là gì?

Bước 2: HS tiếp nhận, thực hiện nhiệm vụ

- HS vận dụng kiến thức đã học và trả lời câu hỏi. 

- GV quan sát, hướng dẫn, hỗ trợ HS (nếu cần thiết).

Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và thảo luận hoạt động và thảo luận

- GV mời 1 – 2 HS trình bày kết quả chuẩn bị

Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ

- GV nhận xét, bổ sung, chốt lại kiến thức.

Nhiệm vụ 2: Tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm

Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học tập

 GV yêu cầu HS trả lời câu hỏi sau đây:

  • Nêu một số nét cơ bản về tác giả và xuất xứ của văn bản “Và tôi vẫn muốn mẹ…”.

kenhhoctap

kenhhoctap

  • Hãy tóm lược nội dung được kể lại trong văn bản và cho biết những điểm nhấn quan trọng trong câu chuyện.

- GV yêu cầu HS tìm kiếm thông tin về giải Nobel Văn học của S. Alexievich trên các trang web uy tín và đánh giá tính xác thực của nguồn tin.

- GV hướng dẫn HS dùng AI (Gemini/ChatGPT) với câu lệnh: "Tóm tắt phong cách viết 'văn chương diễn xướng' (voices of Utopia) của Svetlana Alexievich trong 3 dòng" để định hướng cách đọc văn bản.

Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ học tập

- HS thảo luận theo nhóm, vận dụng kiến thức đã học để thực hiện nhiệm vụ.

- GV quan sát, hỗ trợ HS (nếu cần thiết).

Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và thảo luận

- GV mời đại diện 1 HS của mỗi nhóm lần lượt trình bày kết quả thảo luận.

- GV yêu cầu HS khác lắng nghe, nhận xét, đặt câu hỏi (nếu có). 

Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập

- GV nhận xét, đánh giá, chốt kiến thức.

- GV chuyển sang nội dung mới.

 

 

 

I. Truyện kí

1. Hư cấu và phi hư cấu trong truyện kí

- Truyện kí là một dạng truyện kể về người thật, việc thật. Tôn trọng sự thật đời sống, đảm bảo tính xác thực của toàn bộ sự việc được kể là đòi hỏi quan trọng hàng đầu đối với các sáng tác thuộc thể loại này. Vì vậy, truyện kí được xếp vào loại văn học phi hư cấu.

- Tuy nhiên, yếu tố hư cấu vẫn luôn hiện diện trong truyện kí (dù được sử dụng một cách tiết chế), thể hiện ở sự sáng tạo riêng của người viết khi xử lí, tổ chức tư liệu và lựa chọn giọng điệu, ngôn ngữ trần thuật thích hợp. Yếu tố hư cấu còn được thể hiện qua cách người viết hình dung, miêu tả tâm trạng, cảm xúc của nhân vật.

II. Tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm

1. Tác giả và xuất xứ tác phẩm

- Xvétlana A-lếch-xi-ê-vích sinh năm 1948, là nhà báo, nhà văn Bê-la-rút (Belarus), được trao giải Nô-ben (Nobel Văn học năm 2015. Một số tác phẩm tiêu biểu của bà: Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ (1983), Những nhân chứng cuối cùng (1985), Lời nguyện cầu từ Chéc-nô-bin – Chernobyl (1997). Các tác phẩm phi hư cấu của Xvét-la-na A-lếch-xi-ê-vích đã dựng lên “một tượng đài tưởng niệm sự thống khổ và lòng can đảm trong thời đại chúng ta” (nhận định của Uỷ ban chấm giải Nô-ben).

- Văn bản “Và tôi vẫn muốn mẹ…” rút từ cuốn Những nhân chứng cuối cùng – Solo cho giọng trẻ em của Xvét-la-na A-lếch-xi-ê-vích. Cuốn truyện kí này sử dụng hình thức phỏng vấn những người có tên tuổi, nghề nghiệp cụ thể, từng trải qua thực tế tàn khốc của cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai tù khi còn thơ bé. Với hình thức này, tác giả đã chọn lọc, sắp xếp lại sự kiện để đem đến cho người đọc những câu chuyện sinh động, hãi hùng trong kí ức của các nhân vật.

2. Tóm lược nội dung được kể lại trong văn bản và những điểm nhấn quan trọng trong câu chuyện.

- Tóm lược: Năm 1941, “tôi” – lúc ấy còn là một đứa bé tám tuổi – sau khi từ biệt bố mẹ đi dự trại hè đội viên, gặp một trận bom của phát xít Đức, chứng kiến sự đổ máu, chết chóc →“Tôi” cũng như bao đứa trẻ khác phải rời trại hè, mang theo lương thực, thực phẩm về một vùng hậu phương xa xôi, nơi không có đạn bom → Ở vùng đất mới, những đứa trẻ biết thế nào là thiếu thần, đói khát, chẳng có gì để ăn, đến nỗi phải giết cả con ngựa già chuyên chở đồ đạc, thậm chí ăn cả chồi mầm, vỏ cây → Trên tất cả là nỗi nhớ mẹ, nhớ đến mức gào khóc không nguôi → Đến lớp Ba,“tôi” trốn trại, được một gia đình ông già cưu mang → Trong lòng “tôi” chỉ có một nỗi ước ao được đi tìm mẹ → Cứ thế, mãi sau này, khi đã năm mươi mốt tuổi, “tôi” vẫn muốn có mẹ. 

- Điểm nhấn quan trọng của câu chuyện là các sự kiện liên quan đến mẹ – điều đã được khái quát ở nhan đề của văn bản. Mẹ luôn hiện diện trong mọi thời khắc cuộc sống đau thương thời thơ ấu của “tôi”, và ước muốn gặp lại mẹ trở thành nỗi ám ảnh thường xuyên thường trực trong lòng nhân vật. Vậy mà, cuối cùng phải đối diện với sự thật phũ phàng: chiến tranh đã cướp đi tất cả những gì gần gũi, thân thương nhất của con người.

1.1.NC1a: Biết tìm kiếm, lựa chọn và đánh giá tính xác thực của thông tin số về tác giả S. Alexievich và bối cảnh Thế chiến II.

6.1.NC1a: Biết sử dụng công cụ AI để hỗ trợ phân tích và định hướng giọng đọc trong văn bản. 

Hoạt động 2: Khám phá văn bản.

a. Mục tiêu: Nhận biết và phân tích được yếu tố hư cấu / phi hư cấu trong văn bản Và tôi vẫn muốn mẹ….

b. Nội dung: Sử dụng SGK, chắt lọc kiến thức để tiến hành trả lời các câu hỏi liên quan đến văn bản Và tôi vẫn muốn mẹ….

c. Sản phẩm: Câu trả lời của HS và kiến thức HS tiếp thu được liên quan đến văn bản Và tôi vẫn muốn mẹ… và chuẩn kiến thức GV.

d. Tổ chức thực hiện

…………………………………………..

…………………………………………..

…………………………………………..
 

3. HOẠT ĐỘNG LUYỆN TẬP

a. Mục tiêu: HS củng cố, mở rộng kiến thức đã học về văn bản Và tôi vẫn muốn mẹ….

b. Nội dung: Sử dụng SGK, kiến thức đã học để trả lời các câu hỏi liên quan đến văn bản Và tôi vẫn muốn mẹ….

c. Sản phẩm: Câu trả lời của HS và chuẩn kiến thức của GV.

d. Tổ chức thực hiện

Nhiệm vụ 1: Trả lời câu hỏi trắc nghiệm

Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học tập

- GV sử dụng các công cụ sáng tạo bài tập tương tác như Kahoot!, Quizizz, ActivePresenter,… để cùng học sinh làm bài và phản hồi  tức thì lại cho học sinh về những thắc mắc.

- GV gửi link cho HS để thực hiện làm bài.

- GV lần lượt nêu các câu hỏi:

Trường THPT:………………………

Lớp:…………………………………..

Họ và tên:……………………………..

PHIẾU BÀI TẬP

VĂN BẢN VÀ TÔI VẪN MUỐN MẸ

Khoanh tròn vào đáp án đặt trước câu trả lời đúng:

Câu 1: Văn bản Và tôi vẫn muốn mẹ… thuộc thể loại nào?

A. Tùy bút.

B. Tản văn.

C. Truyện kí.

D. Hồi kí.

Câu 2: Trong văn bản, chiến tranh đã khiến trẻ con rơi vào hoàn cảnh gì?

A. Hạn hán kéo dài, dẫn đến thiếu nước.

B. Nạn đói.

C. Nạn mù chữ.

D. Nạn thất nghiệp.

Câu 3: Đâu là hình ảnh mô tả trạng thái tinh thần của những đứa trẻ khi thiếu vắng mẹ?

A. Chúng tôi ăn cỏ, ăn sạch.

B. Chúng tôi thấu những người lính bị thương, họ rên la, đau đớn, đến độ chúng tôi chỉ muốn trao tất cả cho họ.

C. Đến giờ tôi vẫn không thể thản nhiên nhìn cỏ mọng và ăn rất nhiểu bánh mì.

D. Nếu ai bất ngờ nhắc đến “mẹ”, lập tức tất cả những đứa trẻ đều òa khóc, gào khóc không nguôi.

Câu 4: Những hình ảnh nhân vật chứng kiến trên đường đi trại hè như thế nào?

A. U ám, tất cả màu sắc đều biến mất hết, lần đầu tiên từ “chết chóc” xuất hiện, mọi người đều nói cái từ khó hiểu đó, máy bay Đức bay rà rà trên đầu.

B. Trời quang, mây tạnh, nắng vàng ấm áp, mọi người hân hoan, vui vẻ.

C. Bão gió, sấm chớp nổ vang trời, những đứa trẻ khóc thét lên vì sợ hãi.

D. Hỗn loạn, xô đẩy, ai cũng chạy thật nhanh để trốn máy bay ném bom.

Câu 5: Thông điệp rút ra từ văn bản Và tôi vẫn muốn mẹ… là gì?

A. Phê phán quân Đức.

B. Lên án, tố cáo chiến tranh phi nghĩa, gây ra những tổn thương không thể nào chữa lành cho tâm hồn con người.

C. Ca ngợi tình đồng chí, đồng đội.

D. Ca ngợi tình yêu thương, đùm bọc nhau trong hoạn nạn.

Bước 2: HS tiếp nhận, thực hiện nhiệm vụ:

- HS tiếp nhận nhiệm vụ học tập.

- GV quan sát, hỗ trợ HS thực hiện (nếu cần thiết). 

Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động, thảo luận

- GV quan sát bảng kết quả trò chơi của HS, lắng nghe và giải đáp thắc mắc của HS. 

- GV mời một số HS khác đọc đáp án khác (nếu có). 

Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập

- GV nhận xét, đánh giá, chuẩn đáp án:

1.C2.B3.D4.A5.B

- GV chuyển sang nhiệm vụ mới.

[5.2.NC1a: HS tham gia trò chơi trắc nghiệm củng cố trên ứng dụng tương tác trực tuyến để giáo viên thu thập dữ liệu học tập tức thời.]

Nhiệm vụ 2: Luyện tập theo văn bản 

Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học tập

GV hướng dẫn làm bài vào vở, cho HS luyện tập theo những nhiệm vụ cụ thể sau:

Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) phân tích ý nghĩa hai câu cuối trong văn bản: “Tôi đã năm mươi mốt tuổi, tôi có hai con. Và tôi vẫn còn muốn có mẹ”.

Bước 2: HS tiếp nhận, thực hiện nhiệm vụ học tập

- HS vận dụng kiến thức đã học để hoàn thành bài luyện tập vào vở.

- GV quan sát, hướng dẫn, hỗ trợ HS (nếu cần thiết). 

Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động, thảo luận

- GV mời đại diện một số HS trình bày trước lớp. 

- GV yêu cầu các HS khác lắng nghe, nhận xét, bổ sung ý kiến (nếu có).

Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập

- GV nhận xét, đánh giá, chuẩn kiến thức.

- GV chốt kiến thức và gợi mở:

Hai câu cuối trong văn bản “Và tôi vẫn  muốn có mẹ” đã gợi cho chúng ta rất nhiểu những suy ngẫm sâu sắc. Chiến tranh trong câu chuyện mà tác giả nhắc đến là cuộc chiến chống phát xít Đức cướp mất hàng chục triệu con người Liên Xô và nó được tái hiện thông qua kí ức của nhân vật “tôi”. Tác giả đã khai thác từ kí ức tuổi thơ của nhân vật tôi khi đã trường thành. “Tôi” đã từng là một cậu bé, những chết chóc, mất mát, tang thương in hằn lên kí ức, ám ảnh suốt cuộc đời. Chiến tranh đã lùi xa vào quá khứ nhưng những tổn thương trong tâm hồn, sự thiếu vắng tình yêu thương là những nỗi đau hằn lên trái tim họ mãi mãi. Dù là năm tuổi, mười lăm tuổi hay năm mươi mốt tuổi và thậm chí là quãng đời còn lại, khát khao vòng tay yêu thương của mẹ cũng luôn cháy bỏng. Từ đó, tác giả đã chứng minh rằng chiến tranh dù với bất cứ lí do gì cũng là phi nhân tính, là tàn ác và không thể nào biện bạch. 

4. HOẠT ĐỘNG VẬN DỤNG

a. Mục tiêu: Vận dụng kiến thức để tạo lập văn bản. 

b. Nội dung: GV hướng dẫn HS làm bài tập vận dụng, yêu cầu tạo lập văn bản.

c. Sản phẩm học tập: Phần trả lời của HS và chuẩn kiến thức của GV.

d. Tổ chức thực hiện:

Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học tập

- GV yêu cầu HS làm bài tập sau:

Qua văn bản “Và tôi vẫn muốn mẹ”, nêu cảm nhận của em về chiến tranh trong mắt trẻ thơ?

- GV hướng dẫn HS sử dụng công cụ AI để kiểm tra lỗi chính tả, cấu trúc câu và yêu cầu gợi ý các từ ngữ có sắc thái biểu cảm mạnh hơn cho đoạn văn.

Bước 2: HS tiếp nhận, thực hiện nhiệm vụ học tập

- HS tiếp nhận nhiệm vụ học tập.

- GV quan sát, hướng dẫn, hỗ trợ HS (nếu cần thiết). 

Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động, thảo luận

- GV mời đại diện 2 – 3 HS trình bày trước lớp.

- GV yêu cầu các HS khác lắng nghe, nhận xét, bổ sung ý kiến (nếu có).

Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập

- GV nhận xét, đánh giá và chốt kiến thức.

- GV có thể gợi mở:

Văn bản “Và tôi vẫn muốn mẹ” đã chạm đến một khía cạnh rất mới khi viết về đề tài chiến tranh đó là khai thác từ những kí ức trẻ thơ. Đa phần những đứa trẻ đều không biết đến chiến tranh là thế nào trước khi chiến tranh tìm đến chúng, thậm chí chúng không hiểu ý nghĩa của hai từ “chết chóc”. Lần đầu tiên, chúng bị đẩy vào thế giới của người lớn, cố gắng đi tìm ba mẹ mình mặc dù đã thấy ba mẹ mình bị giết vì nghĩ chỉ là thất lạc. Trong văn bản, ta thấy sự đối lập giữa sự hồn nhiên của trẻ thơ với bản chất tàn nhẫn của chiến tranh được dẫn dắt qua nhiểu cung bậc cảm xúc từ bình lặng, ngỡ ngàng, đến đau đớn, khao khát… “Và tôi vẫn muốn có mẹ” là giọng nói được cất lên cuối văn bản không chỉ của nhân vật tôi mà là tiếng nói đại diện cho những đứa trẻ trong chiến tranh, những giọng nói hơn nửa thế kỷ vẫn quặn thắt trong lòng những nhân chứng chờ được cất lên. Những cô bé, cậu bé đã trưởng thành nhưng khi nhắc đến mảng kí ức về chiến tranh, “cái người lớn” trong họ như được gột sạch, nước mắt trẻ thơ luôn nặng hơn mọi lý lẽ có thể dẫn ra để bào chữa cho chiến tranh. 

- GV kết thúc bài học.

[6.2.NC1a: HS sử dụng được các công cụ AI để hỗ trợ trong quá trình làm bài.]

*HƯỚNG DẪN VỀ NHÀ:

- Ôn tập văn bản: Và tôi vẫn muốn mẹ…

- Soạn văn bản 3 – Cà Mau quê xứ.

=> Giáo án Ngữ văn 11 kết nối Bài 7 Đọc 2: Và tôi vẫn muốn mẹ

Thông tin tải tài liệu:

Phía trên chỉ là 1 phần, tài liệu khi tải sẽ có đầy đủ. Xem và tải: Giáo án tích hợp NLS Ngữ văn 11 kết nối tri thức cả năm - Tại đây

Tài liệu khác

Chat hỗ trợ
Chat ngay